Liên kết

  • Photo Title 1
  • Photo Title 2
  • Photo Title 3
  • Photo Title 4
  • Photo Title 5
  • Photo Title 6
  • Photo Title 7
  • Photo Title 8

Thống kê

Số lần xem bài viết : 822173
Hiện có 15 khách Trực tuyến


PDF In Email
Xem kết quả: / 11
Bình thườngTuyệt vời 
Viết bởi TS. Nguyễn Văn Nở   
Thứ năm, 02 Tháng 2 2012 08:47

So sánh biểu trưng tục ngữ với ca dao [1]

TS. Nguyễn Văn Nở

Những hình ảnh trong thế giới hiện thực khách quan đều được dùng làm chất liệu biểu trưng trong tác phẩm văn chương. Nguyễn Phan Cảnh có viết: “...nghệ thuật ngôn ngữ trước hết là nghệ thuật tạo những mối liên tưởng giữa các yếu tố riêng lẻ làm thành tác phẩm, nhằm sử dụng một cách mĩ học chiều dày của chất liệu ngôn ngữ[2]. Và ông gọi đó là hình thức “tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa”. Tuy nhiên, việc khai thác và tổ chức các chất liệu biểu trưng này không giống nhau ở các thời kì,  trong các dòng văn học, ngay cả với cùng một chất liệu. Trong “Thi pháp ca dao”, Nguyễn Xuân Kính có khảo sát một số biểu tượng như: cây trúc, cây mai; hoa nhài; con bống, con cò... trong ca dao và trong văn học viết. Sau đó, tác giả có nhận xét: ...” qua việc phân tích một số biểu tượng trong thế giới thực vật (cây trúc, cây hoa mai, cây mai (cùng loại với cây tre), hoa nhài), chúng ta chứng kiến không ít trường hợp mà trong đó tuy cùng viết về một biểu tượng nhưng hai dòng thơ ca dân gian và bác học đã miêu tả khác nhau, cấp cho nó những ý nghĩa khác nhau. Đối với một số biểu tượng trong thế giới động vật, tình hình cũng như vậy” [3]. Như thế, có thể nói, biểu trưng trong văn chương dân gian và biểu trưng trong văn chương bác học không phải hoàn toàn tương đồng. Ngay cả trong văn chương dân gian, việc miêu tả và khai thác nghĩa biểu trưng cũng dị biệt do sự chi phối của đặc trưng thể loại mà tục ngữ và ca dao là hai thể loại tiêu biểu. Bài viết này cố gắng chỉ ra một số đặc điểm biểu trưng của tục ngữ trên cơ sở so sánh với biểu trưng của ca dao.

1. Về chức năng

Biểu trưng của tục ngữ thiên về diễn đạt các phán đoán logic, các thao tác suy lí còn biểu trưng của ca dao thiên về phản ánh bức tranh đời sống xã hội, biểu đạt tư tưởng, tình cảm con người. Ngay cả khi dùng chất liệu tạo hình giống nhau, biểu trưng của chúng cũng không tương đồng. Nếu ở ca dao, chúng là yếu tố tạo hình biểu cảm thì ở tục ngữ, chất liệu này có chức năng biểu trưng cho một triết lí nào đó. Khảo sát một số chất liệu tạo hình ở cả hai thể loại này sẽ cho ta thấy rõ.

1.1. Hình ảnh tự nhiên là chất liệu phổ biến trong trong ca dao, tục ngữ. Nhưng ở mỗi thể loại, chúng được sử dụng với chức năng khác nhau. Ví dụ như bài ca dao sau:

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

Hình ảnh “đêm trăng thanh” là không gian, thời gian nghệ thuật, là khung cảnh lãng mạn để chủ thể trữ tình bày tỏ lời yêu. Cảm nhận về tự nhiên có thể được dùng như những yếu tố so sánh, gợi hứng trong sự hình thành cấu tứ của ca dao:

- Ngó lên trời, trời cao lồng lộng

Ngó xuống đất, đất rộng mênh mông

Biết răng chừ cá gáy hoá rồng

Đền công ơn cha mẹ lao tâm sinh thành

Sự to lớn, bền vững của “ đất- trời” được dùng để so sánh với tình cảm con người, là không gian, điều kiện gợi lên cảm xúc. Hình ảnh cặp đôi “sông - núi” biểu trưng cho sự xa xôi, cách trở, được tác giả dân gian dùng để nhấn mạnh nỗi đau đớn, tiếc nuối, trách hờn khi tình yêu tan vỡ:

Cách sông, cách núi cho cam

Cách một chỗ lội, thiếp chàng xa nhau.

Còn trong bài ca dao:

Sông sâu, cá lội mất tăm,

Chín tháng cũng đợi, mười năm cũng chờ.

Hình ảnh “sông sâu, cá lội”, cũng biểu trưng cho sự cách trở, biền biện vắng xa của người thương và là tín hiệu thẩm mĩ để người con gái khẳng định lòng chung thuỷ, đợi chờ. Thiên nhiên xuất hiện ở đây là thiên nhiên miêu tả, điều kiện tức cảnh sinh tình hoặc là hình ảnh để so sánh với tâm lí, tình cảm, vẻ đẹp con người:

- Lấp lánh là lấp lánh ơi,

Mắt người lấp lánh như sao trên trời

Tôi say người lắm người ơi!

- Thấy anh như thấy mặt trời

Chói chang khó ngó, trao lời khó trao.

Trong tục ngữ, những chất liệu trên được dùng không nhằm để biểu lộ tình cảm của chủ thể trữ tình mà là góp phần biểu đạt một quan niệm, đúc kết kinh nghiệm nào đó. Hình ảnh cặp đôi “đất - trời” trong câu “Yêu ai thì bốc lên trời; ghét ai thì dìm xuống đất”, biểu trưng cho sự “cao-thấp” và góp phần đúc kết một triết lí: Cách đánh giá, nhận định của ta về một đối tượng nào đó bị chi phối rất nhiều bởi tình cảm cá nhân. Nó cũng được dùng để biểu trưng cho triết lí là những gì không phải do mình tạo ra hoặc chiếm hữu bằng những hành động bất nhân bạo ngược thì sẽ không giữ được lâu bền qua cấu trúc “Của trời, trả đất”, “trời- đất” biểu trưng cho một quan niệm về sở hữu.

Khác với ca dao, dòng sông trong tục ngữ thường được dùng để biểu trưng cho sự khó nắm bắt được lòng người: “Sông sâu có thể bắc cầu, lòng người nham hiểm biết đâu mà dò”. Hình ảnh này còn biểu trưng cho đời người trong cấu trúc: “Sông có khúc, người có lúc”. Câu tục ngữ đúc kết một nhận định: Đời người có lúc thăng trầm, thịnh suy, do đó cần có nghị lực vượt qua nghịch cảnh, không nên bi quan.

1.2.Cơm” và “canh” là hình ảnh không lạ trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao người Việt và thường được dùng biểu trưng cho mối quan hệ vợ chồng: “Cơm lành, canh ngọt”; “Cơm chẳng lành, canh chẳng ngon, chín đụn mười con cũng lìa”; “Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa, mấy đời cơm khê”; “Cơm trắng ăn với chả chim, chồng đẹp vợ đẹp những nhìn mà no”; “Râu tôm nấu với ruột bầu, chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”...Nhưng nếu ở tục ngữ, chất liệu trên góp phần biểu trưng cho triết lí về mối quan hệ vợ chồng thì trong ca dao là nhằm biểu đạt những nội dung tình cảm, ví như:

Anh nói thì em cũng nghe anh

Nhưng bát cơm đã trót chan canh mất rồi

Nuốt vào đắng lắm anh ơi!

Nhổ ra thì để tội trời ai mang?

Bài ca dao phản ánh một bi kịch khá phổ biến của người phụ nữ xưa. “Bát cơm” là hình ảnh ẩn dụ chỉ người phụ nữ, còn “chan canh” chỉ người con gái đã có chồng. Nhưng hôn nhân này không hạnh phúc và anh chồng đó có thể là người mà gia đình xếp đặt nên cô đành lỡ làng, lỗi hẹn với người yêu. Đấy là tiếng lòng của người phụ nữ: Thương nhớ mối tình ngang trái chẳng thành và sống ngậm ngùi, chán chường trong tù ngục hôn nhân không lối thoát. Bài ca dao là tiếng kêu ai oán, là nỗi đau của phận má hồng và đem đến cho người đọc một sự đồng cảm sâu sắc..

Trong khi đó câu “Cơm chẳng lành, canh chẳng ngon, chín đụn mười con cũng lìa”, hình ảnh “cơm” và “canh” dùng với nghĩa biểu trưng tương tự nhưng là chất liệu để cùng với các thành tố khác trong cấu trúc biểu trưng cho triết lí: Vợ chồng bất hoà, mâu thuẫn, lục đục thì dù con cháu đầy đàn, giàu sang phú quý cũng dẫn đến chia lìa. Câu tục ngữ đúc kết một kinh nghiệm trong đời sống vợ chồng.

1.3. Nhóm động vật thường được dùng làm chất liệu cả trong ca dao và tục ngữ. Sự xuất hiện và nội dung biểu hiện của chúng cũng cho thấy đặc trưng riêng của từng thể loại xét về mặt nội dung. Một trong những loài động vật gần gũi, thân thiết với người nông dân là con trâu. Trong tục ngữ, con trâu được dùng biểu trưng cho những quan niệm về triết lí nhân sinh. Ví dụ như: “Làm kiếp trâu ăn cỏ, làm kiếp chó ăn dơ”; “Trâu đồng nào ăn cỏ đồng nấy”; “Buộc trâu trưa nát cọc”; “Trâu có đàn, bò có lũ”; “Trâu chậm uống nước đục”; “Trâu buộc ghét trâu ăn”... Trong ca dao, con trâu xuất hiện như là người bạn thân thiết với người nông dân, con vật có một đời sống gắn bó, vất vả với những người “tay lấm, chân bùn”:

Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

Cấy cày giữ nghiệp nông gia,

Ta đây trâu đấy ai mà quản công!

Bao giờ cây lúa còn bông,

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

Cách nói nhân hoá thể hiện tình cảm gần gũi, yêu thương và có sức biểu cảm cao. Giữa người và vật như không còn xa cách mà đều là những người “bạn cày” cùng chung sức tạo ra hạt lúa, củ khoai. Hoặc nó được dùng làm hình ảnh ẩn dụ để giãi bày tình cảm:

Công anh chăn nghé đã lâu,

Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày.

Nội dung biểu hiện ở đây là nỗi đau, sự tiếc nuối, ngậm ngùi của chàng trai khi bị người tình phụ. Bên cạnh đó là hình ảnh con cò, một loài chim xuất hiện nhiều trong ca dao người Việt vì: “Trong các loài chim kiếm ăn ở đồng ruộng, chỉ có con cò thường gần người nông dân hơn cả. Những lúc cày cuốc, cấy hái, người nông dân Việt Nam thường thấy con cò ở bên họ: con cò lội theo luống cày, con cò bay trên đồng lúa bát ngát, con cò đứng trên bờ ruộng rỉa lông rỉa cánh, ngắm nghía người nông dân làm ruộng...” [4]. Họ tìm thấy ở con cò nhiều nét tương đồng với cuộc đời của mình hoặc gởi gắm vào hình ảnh đó ước mơ bay bổng, những nỗi nhớ khôn nguôi:

- Một đàn cò trắng bay quanh

Cho loan nhớ phụng, cho mình nhớ ta.

Mình nhớ ta như cà nhớ muối,

Ta nhớ mình như Cuội nhớ Trăng.

- Một đàn cò trắng bay tung,

Bên nam, bên nữ ta cùng hát lên!

Con cò” có khi biểu trưng cho thân phận người phụ nữ:

Con cò lặn lội bờ sông,

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.

Có lúc biểu trưng cho thân phận của những người nông dân thấp cổ, bé miệng, chịu nhiều nỗi oan ức, đắng cay:

- Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

- Con cò ăn bãi rau răm

Đắng cay chịu vậy than rằng cùng ai.

Nhưng trong tục ngữ, “con cò” không dùng để biểu trưng cho nỗi niềm, thân phận, ước mơ... mà là chất liệu biểu trưng để góp phần thể hiện một quan niệm triết lí, một kinh nghiệm sống ở đời. Vì thế, tuy tư duy liên tưởng tương đồng nhưng do chức năng của mỗi thể loại khác nên tạo nghĩa biểu trưng riêng. Ở tục ngữ, “con cò” biểu trưng cho kẻ cơ hội “Đục nước béo cò”; cho kẻ dưới do được nuông chiều mà trở nên khinh nhờn, phản phúc: “Chơi cò, cò mở mắt”; cho hạng người ngồi không, hưởng lợi từ sức lao động người khác: “Cóc mò, cò xơi”; hoặc cho kẻ ác: “Giết một con cò, cứu trăm con tép”...

1.4. Hình ảnh “thuyền” cũng là hình ảnh xuất hiện với tần số cao trong tục ngữ, ca dao. Điều này do hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt nên ngày xưa, sự đi lại chủ yếu của nhân dân ta là bằng thuyền (bè, đò, ghe). Trong ca dao, hình ảnh cặp đôi “thuyền - bến” thường dùng để biểu trưng người con trai và người con gái:

Thuyền ơi có nhớ bến chăng?

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

Nội dung biểu đạt của bài ca dao là tiếng lòng của người phụ nữ, là lời khẳng định sự chung thuỷ. Đặc trưng di động, không cố định của “thuyền” là nét tương đồng dùng làm ẩn dụ để chỉ người con trai. Người phụ nữ ngày xưa đâu có quyền định đoạt hôn nhân, đâu có quyền tự do yêu đương: “Phận gái mười hai bến nước, trong nhờ, đục chịu”. Mà phần “đục” đâu phải là hiếm nên tiếng than thân, trách phận như điệp khúc trong ca dao:

Cha mẹ cho em đi chuyến đò nghiêng

Thuyền tròng trành đôi mạn, em ôm duyên trở về

Trong khi đó, đặc trưng này được dùng với chức năng khác trong tục ngữ qua hình ảnh cặp đôi “thuyền-lái”: “Thuyền theo lái, gái theo chồng”; “Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng”. “Thuyền theo lái” được dùng làm vế so sánh để biểu trưng cho một quan niệm: Người phụ nữ ngày xưa, khi lấy chồng thì theo chồng (xuất giá tòng phu), cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào người chồng.

1.5. Bộ phận cơ thể người (BPCTN) đều là chất liệu được dùng trong cả hai thể loại đang xét. Ví dụ như: ánh mắt, đôi môi, bờ vai, mái tóc, hàm răng... Nhưng các BPCTN nói trên, trong ca dao trữ tình, được dùng để thể hiện cảm xúc nhớ thương, rung động của những người yêu nhau:

- Cổ tay em trắng như ngà,

Đôi mắt em liếc như là dao cau.

Miệng cười như thể hoa ngâu

Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.

- Mắt em trong như nước dừa xiêm,

Môi tròn tựa miếng đường thốt nốt.

- Mình về có nhớ ta chăng,

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.

BPCTN ở đây không dùng để biểu trưng. Nó là hình tượng thẩm mĩ, là vẻ đẹp khiến chủ thể trữ tình vương vấn, nhớ nhung hay đắm đuối, say lòng...Nhưng trong tục ngữ, BPCTN được dùng phản ánh sự đánh giá, nhận xét của nhân dân ta về con người hoặc nêu lên quan niệm về triết lí nhân sinh. Ví dụ: “Môi hở, răng lạnh” biểu trưng cho triết lí: “Hành động của người này có ảnh hưởng đến người khác; anh em ruột một nhà, đồng bào một nước nên che chở đùm bọc nhau.” [5]. “Vụng tay hay con mắt” biểu trưng cho hạng người làm thì thô vụng nhưng lại hay chê bai, phê phán người khác. Nói chung, BPCTN xuất hiện trong tục ngữ không phải với mục đích thẩm mĩ mà là phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về khoa học nhân diện, thể hiện quan niệm “Trông mặt mà bắt hình dong”. Ví dụ về mái tóc, hàm răng: “Cái răng, cái tóc là gốc con người”, “Cá  tươi thì phải xem mang, người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai”, “Đàn bà tốt tóc thì sang, đàn ông tốt tóc chỉ mang nặng đầu”; về đôi mắt: “Con mắt là mặt đồng cân”, “Người khôn con mắt đen sì, người dại con mắt nửa chì, nửa thau”, “To mắt hay nói ngang”, “Những người ti hí mắt lươn, trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người”; về đôi môi: “Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa”, “Trai thâm môi, gái lồi mắt”, “Môi dày ăn vụng đã xong, môi mỏng hay hớt, môi cong hay hờn”...

Tóm lại, các nhóm chất liệu đều là phương tiện biểu đạt chung cho cả ca dao và tục ngữ. Chúng có thể được dùng với nghĩa đen và nghĩa biểu trưng. Biểu trưng của ca dao và biểu trưng của tục ngữ có sự tương đồng về tư duy liên tưởng nhưng nội dung biểu trưng của chúng không giống nhau vì mỗi thể loại có chức năng khác nhau. Biểu trưng của tục ngữ thiên về diễn đạt các phán đoán logic, các thao tác suy lí còn biểu trưng của ca dao thiên về phản ánh bức tranh đời sống xã hội, biểu đạt tư tưởng, tình cảm con người.

2. Tục ngữ là một đơn vị biểu trưng toàn vẹn

2.1. Biểu trưng của tục ngữ là biểu trưng của toàn bộ cấu trúc. Có một câu trong tác phẩm “Thiên Nam ngữ lục” nói về giá trị nhận thức của tục ngữ là “phương ngôn nói một hay mười” (phương ngôn ở đây được coi như là tục ngữ). Cái “nói một hay mười” là nói về giá trị biểu trưng của tục ngữ. Và đặc biệt, biểu trưng đó lại chứa đựng ở một hình thức hết sức ngắn gọn. Từ ngữ chắt lọc trong một cấu trúc cực ngắn vừa làm cho tục ngữ “lời ít, ý nhiều” vừa giúp cho tục ngữ dễ nhớ, dễ truyền. Cấu trúc tỉnh lược là một trong những đặc điểm hình thức của tục ngữ (cùng với vần, nhịp và kiến trúc sóng đôi). Và chính vì cấu trúc nén chặt ấy mà các thành tố tạo nên chúng có khả năng có nghĩa biểu trưng và đều tham gia vào việc tạo nên biểu trưng chung của toàn bộ cấu trúc. Ví dụ câu “Lạt mềm, buộc chặt”. Sợi lạt dùng để buộc rổ rá, cột lá khi lợp nhà... Nếu để sợi lạt dày, khô thì không thể buộc chặt hoặc dễ bị dòn, gãy. Khi lạt được chẻ mỏng, ngâm nước cho bền thì buộc vừa chắc, vừa chặt lại rất bền. Từ kinh nghiệm rất đỗi bình thường ấy, hình ảnh này được dùng biểu trưng trong câu tục ngữ. Mỗi thành tố ở đây đều có chức năng làm hình thành nghĩa biểu trưng. “Lạt” biểu trưng cho cách hành động, ứng xử; “mềm” biểu trưng cho cách ứng xử khôn khéo nhưng nó chỉ có nghĩa biểu trưng đó khi là định ngữ của “lạt”; “buộc” biểu trưng cho hành động, cách thức; “chặt” biểu trưng cho hiệu quả, tác dụng nhưng nó cũng có nghĩa đó khi là bổ ngữ của “buộc”. Nếu “lạt mềm” và “buộc chặt” tách ra khỏi cấu trúc tục ngữ thì từng thành tố và từng vế sẽ không có nghĩa biểu trưng trên. Nó có nghĩa ẩn dụ khi nằm trong chỉnh thể và lúc này biểu trưng của “Lạt mềm, buộc chặt” không chỉ là sự hợp nghĩa của hai vế mà còn có sự tham gia của kiến trúc sóng đôi để tạo nên biểu trưng của cả cấu trúc: Người có thái độ mềm mỏng, khôn khéo trong giao tiếp sẽ dễ thành công trong cuộc sống, dễ chinh phục lòng người. Hoặc như câu “Tre già, măng mọc” có nghĩa biểu trưng là nói về quy luật của cuộc đời: “Thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước, người già có người trẻ thay thế”. Biểu trưng này là biểu trưng của toàn bộ cấu trúc. Chính trong cấu trúc trên, “tre già” và “măng mọc” mới có nghĩa ẩn dụ, và do sự kết hợp của biện pháp tương phản cùng kiến trúc sóng đôi mà nó có nghĩa triết lí trên.

Khảo sát câu “Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa” ta sẽ thấy rõ thêm tục ngữ là đơn vị biểu trưng toàn vẹn. “Dưa” và “dừa” biểu trưng cho sự vật, đối tượng gần gũi nhau hoặc có sự tương đồng. “Vỏ dưa”, “vỏ dừa” biểu trưng cho sự vật, đối tượng không cần thiết hoặc có thể gây hại, phiền toái. Tổ hợp “tránh vỏ dưa” chưa thể nêu lên một quy luật, một triết lí mà chỉ dừng lại ở nét nghĩa “tránh điều hại, điều không tốt”; tổ hợp “gặp vỏ dừa” cũng tương tự. Chính kiến trúc sóng đôi đã góp phần tạo nên biểu trưng cao hơn: “Tránh điều có thể gây tai hại này thì lại gặp phải điều tệ hại khác, đằng nào cũng không thoát.”[6]. Như vậy, biểu trưng của tục ngữ có thể diễn ra ở cấp độ từ (chất liệu biểu trưng), ngữ (trạng thái hay tổ hợp chất liệu) và câu (quan hệ của nhiều chất liệu, trạng thái của nhiều chất liệu trong cấu trúc).

Trong tục ngữ, từng thành tố, từng chất liệu có nghĩa biểu trưng; tổ hợp các thành tố, chất liệu đó có nghĩa biểu trưng mới nhưng chưa tạo nên toàn bộ biểu trưng của tục ngữ. Biểu trưng của tục ngữ phải được hiểu như là biểu trưng của một tác phẩm trong đó có sự tác động qua lại, sự cấu trúc hoá các sự vật hiện tượng chứ không phải là từng biểu trưng của một sự vật, hiện tượng nào. Biểu trưng của tục ngữ có khi khác với biểu trưng của từ hoặc ngữ. Có nghĩa là biểu trưng của từng thành tố có thể biến đổi do sự chi phối của cấu trúc. Điều này khác hẳn với ca dao.

2.2. Ta thử xét một văn bản cụ thể:

Bây giờ mận mới hỏi đào,

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa:

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Bài ca dao không có nghĩa biểu trưng gì cả. Những hình ảnh “mận”, “đào”, “vườn hồng” là những hình ảnh ẩn dụ để thay thế cho chủ thể và đối thể trữ tình cùng vấn đề tình cảm lứa đôi. Nội dung của bài ca dao có thể diễn đạt lại như sau:

Bây giờ anh mới hỏi em,

Tình yêu đã có ai đặt vấn đề hay chưa?

Anh hỏi thì em xin thưa:

Tình yêu có khả năng tiếp nhận, nhưng chưa ai đặt vấn đề. [7]

Như vậy, trong bài ca dao, các hình ảnh ẩn dụ được dùng để thay cho cách nói trực tiếp, giúp lời tỏ tình kín đáo, nhẹ nhàng và sự biểu đạt ở đây mang tính hình tượng, thêm sắc thái biểu cảm. Tất nhiên, chỉ khi xuất hiện trong văn bản bài ca dao nói trên thì các hình ảnh “mận”, “đào”, “vườn hồng” mới có nghĩa ẩn dụ; tách rời khỏi văn bản chúng sẽ trở về với nghĩa ban đầu, nghĩa được ghi trong từ điển. Ở đây, chúng chỉ có chức năng thay thế tên gọi các đối tượng, sự vật vốn đã có tên gọi. Nó chỉ có nghĩa biểu trưng của từng thành tố và cấu trúc bài ca dao không chi phối, làm thay đổi biểu trưng của từng thành tố đó. Nội dung biểu đạt của bài ca dao dưới đây cũng có cách vận dụng tương tự:

Tiếc công anh xe nhợ uốn cây cần

Xe rồi đứt nhợ con cá lần ra khơi.

Nội dung cơ sở là tâm sự, nỗi buồn của chàng trai khi tình yêu tan vỡ. Biện pháp tu từ chủ yếu ở đây là ẩn dụ. “Xe nhợ uốn cây cần” biểu trưng cho sự vun đắp tình yêu.; “xe rồi đứt nhợ” biểu trưng cho tình yêu tan vỡ; “con cá lần ra khơi” biểu trưng cho người con gái đã rời xa, tình yêu không còn nữa. Các tổ hợp ẩn dụ trên chỉ có nghĩa khi xuất hiện trong văn bản bài ca dao. Nhưng khác với tục ngữ, văn bản ca dao chỉ hiện thực hoá biểu trưng của từng thành tố (hoặc tổ hợp thành tố) mà không chi phối đến biểu trưng của từng thành tố, không tạo nên biểu trưng mới của cả cấu trúc. Khảo sát bài ca dao khác để làm rõ thêm vấn đề:

Tưởng nước giếng sâu nối sợi dây dài,

Ai ngờ giếng cạn tiếc hoài sợi dây.

Nội dung cũng là tâm sự, nỗi buồn của chủ thể trữ tình khi tình yêu tan vỡ nhưng có sự hụt hẫng hơn, da diết hơn. “Nước giếng sâu” biểu trưng cho tình yêu sâu sắc; “nối sợi dây dài” biểu trưng cho sự đáp lại tình cảm chân thành; “giếng cạn” biểu trưng cho tình yêu hời hợt;  “tiếc hoài sợi dây” biểu trưng cho nỗi nuối tiếc tình cảm đã trót trao. Ta có thể thay thế cách nói gián tiếp của bài ca dao bằng cách nói trực tiếp sau:

Tưởng tình yêu sâu sắc nên đáp bằng tất cả tấm lòng

Ai ngờ tình yêu hời hợt nên tiếc hoài tình cảm đã gởi trao.

Như thế, nhờ xuất hiện trong văn bản ca dao mà các tổ hợp ẩn dụ trở nên có nghĩa, nhưng khác với tục ngữ, biểu trưng của các ẩn dụ (hoặc tổ hợp ẩn dụ) không bị chi phối bởi cấu trúc và cả cấu trúc cũng không tạo nên biểu trưng mới.

3. Biểu trưng của tục ngữ không chỉ tồn tại trong văn bản tục ngữ mà còn được mở rộng thêm trong ngữ cảnh

3.1. Nội dung của ca dao có thể đa nghĩa. Nhiều bài ca dao được hiểu khác nhau như “Trèo lên cây bưởi hái hoa...”, “Mình nói dối ta mình hãy còn son...” [8]. Nhưng đấy không phải là sự mở rộng nội dung ngữ nghĩa do ngữ cảnh giao tiếp mang lại mà là những cách hiểu khác nhau về nội dung của bài ca dao. Hoàn cảnh vận dụng của ca dao có tính diễn xướng đích thực, mang tính chất văn chương nghệ thuật hoặc vận dụng trong sách vở chứ không phải trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày. Đặt trong những hoàn cảnh vận dụng khác nhau có thể hiểu nội dung bài ca dao khác nhau nhưng các thành tố biểu trưng trong đó vẫn không có sự mở rộng nội dung ngữ nghĩa.

Tục ngữ được vận dụng trong nhiều phong cách chức năng ngôn ngữ khác nhau, nhất là trong phong cách khẩu ngữ, và ở mỗi phong cách chức năng ngôn ngữ chúng cũng được vận dụng rất đa dạng. Điều này do: “Vì trường nghĩa của câu tục ngữ đa nghĩa thường khá rộng (xoay quanh một nghĩa cơ bản) cho nên nó có khả năng ứng dụng vào những tình huống, hoàn cảnh khác nhau. Trên thực tế, sử dụng một câu tục ngữ một cách đích đáng, ở một hoàn cảnh thích hợp, xét về mặt “hành ngôn”, gần như là khám phá ra một nghĩa mới thuộc trường nghĩa của nó, nếu không muốn nói là “phát minh” ra một “ẩn dụ” mới.” [9].

Người dùng tục ngữ, do năng lực, trình độ đã thể hiện cách hiểu của mình về nghĩa của tục ngữ qua việc vận dụng chúng trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể. Người nhận sẽ lựa chọn một cách hiểu cũng tuỳ vào khả năng, trình độ hiểu biết của mình về những quy ước mà câu tục ngữ chứa đựng. Và có thể sẽ xảy ra trường hợp, người nói (viết) và người nghe (đọc) có cách hiểu không giống nhau. Để hiểu nghĩa của tục ngữ cần phải xét đến cả khi nó ở dạng tỉnh (tức đã cố định hoá bằng văn bản) lẫn ở dạng động (tức khi nó được ứng dụng vào những phát ngôn cụ thể). Có thể dễ dàng nhận ra rằng, biểu trưng của văn bản tục ngữ mang tính trừu tượng và khái quát. Nhưng dù vậy, biểu trưng này vẫn tồn tại một cách im lìm trong ý thức, tư duy của người bản ngữ hoặc trong các từ điển tục ngữ. Còn biểu trưng của tục ngữ trong ngữ cảnh mang tính linh hoạt, cụ thể và tồn tại trong một hoàn cảnh vận dụng cụ thể. Có nghĩa là khi được vận dụng, tục ngữ như được khoác một bộ cánh mới, sinh khí mới, vận động mới, phần hồn mới và đem đến một phát hiện mới do hoàn cảnh mới tạo ra. Biểu trưng của văn bản tục ngữ chỉ giới hạn trong trong chính cấu trúc hình thức, cấu trúc logic, cấu trúc hình ảnh của nó. Biểu trưng của tục ngữ trong ngữ cảnh còn bị sự chi phối của các nhân tố ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ như hoàn cảnh, đối tượng, mục đích giao tiếp... Nguyễn Xuân Đức cho rằng tục ngữ chỉ có một nghĩa mà thôi và nghĩa đó do hoàn cảnh nói năng, do môi trường vận dụng quy định: “Tục ngữ nói riêng, văn học dân gian nói chung bao giờ cũng gắn với môi trường ứng dụng, cho nên chúng ta không thể xét nghĩa của nó trên văn bản chết như đối với tác phẩm truyền bằng chữ viết. Mỗi lần ứng dụng, như đã nói ở trên, mỗi câu tục ngữ chỉ được tiếp nhận một nghĩa cụ thể mà thôi. Chính vì lẽ đó, ngay cả ở những câu tục ngữ loại này nếu nói chỉ có một nghĩa- nghĩa đang ứng dụng - thì cũng không có gì là sai.” [10].

Quan niệm của Nguyễn Xuân Đức về nghĩa vận dụng là có cơ sở, nếu không nói là chính xác. Rõ ràng, khi vận dụng tục ngữ vào trong lời ăn tiếng nói của mình, chủ thể phát ngôn đã hiểu và truyền cách hiểu đó, cách tiếp nhận đấy vào một trường hợp cụ thể để người thụ ngôn hiểu đúng. Nghĩa cụ thể, nghĩa ứng dụng của tục ngữ trong ngữ cảnh lúc đó sẽ bị chi phối bởi nhiều yếu tố: cả về yếu tố thuần ngôn ngữ và các yếu tố ngoài ngôn ngữ. Có thể nói, khi ứng dụng, yếu tố ngoài ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng. Nó chi phối cấu trúc hình thức của tục ngữ, cấp cho tục ngữ đó một sắc thái biểu cảm cụ thể, một sắc thái nghĩa cụ thể. Tách rời khỏi ngữ cảnh, tục ngữ sẽ trở về với biểu trưng ban đầu; biểu trưng ở góc độ văn bản. Mà như đã nói, biểu trưng ở góc độ văn bản vốn rất trừu tượng, khái quát nên có thể vận dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Về vấn đề này, Chu Xuân Diên có viết: “... một câu tục ngữ không phải chỉ vào lúc nó “sinh ra”, mà cả vào lúc nó được truyền bá rộng rãi, nghĩa của nó đã được mở rộng, cứ mỗi khi “được nhớ lại” (được vận dụng), bao giờ nó cũng gắn liền với cái cụ thể, cái hiện tượng, với mục đích xác định sự kiện, với sự quan sát trực tiếp, sự xem xét hiện thực một cách sinh động.[11]. Chúng ta thử khảo sát điều này qua ngữ cảnh vận dụng của một câu tục ngữ cụ thể. Đó là câu: “Vỏ quýt dày, có móng tay nhọn”.

3.2. Câu này được giải thích là: “Dù ghê gớm đến mấy thì cũng có đối thủ cao tay hơn trừng trị[12]. Biểu trưng của câu tục ngữ trên thường được dùng để ca ngợi mưu trí của người có “móng tay nhọn”, trong đó “vỏ quýt dày” thường dùng để biểu trưng cho những người không tốt hay thế lực xấu. Biểu trưng của văn bản tục ngữ nhìn chung trừu tượng, khái quát. Trong thực tế, nó đã được vận dụng như thế nào, dùng chỉ đối tượng nào, mục đích giao tiếp gì, sắc thái biểu cảm ra sao...tất cả chỉ có thể được hiện thực hoá trong những ngữ cảnh vận dụng cụ thể. Trong ngữ cảnh (a) dưới đây, “vỏ quýt” được dùng để biểu trưng cho hành động kiểm soát gắt gao của kẻ địch đối với những người tù cộng sản; còn “móng tay” là chỉ sự mưu trí, cách thức ứng biến của họ để đối phó lại hành động trên. Câu tục ngữ còn thể hiện sự dũng cảm, không khuất phục, đầu hàng của những người chiến sĩ:

a) Các đồng chí sẽ xem, nhớ và đốt tờ giấy đi. Từ đó miệng truyền cho miệng: khẩu thiệt vô bằng. Nhà thương là chỗ thông tin quan trọng, nếu không nói là duy nhất, của các nhà tù. Do đó, giặc kiểm soát hết sức gắt gao. Nhưng chúng có vỏ quýt, ta cũng có móng tay...

(Nguyễn Hải Trừng- Thử lửa- tr 78)

Trong văn chính luận, Hồ Chí Minh thường dùng tục ngữ và chính cách dùng này đã giúp cho văn chính luận của Bác tăng thêm sức lập luận và thuyết phục của lời nói. Trong “Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng” Bác đã dùng đến tục ngữ trên như sau:

b) Giặc Pháp là "vỏ quýt dày" ta phải có thời gian để mà mài "móng tay nhọn", rồi mới xé toang xác chúng ra.

Như thế, “vỏ quýt dày” ở đây biểu trưng cho bọn thực dân Pháp với sức mạnh quân sự và những thủ đoạn xảo quyệt nhằm xâm lược nước ta; còn “móng tay nhọn” biểu trưng cho tinh thần yêu nước, sự dũng cảm kiên cường, bền bỉ, mưu trí...để làm nên cuộc kháng chiến trường kì. Còn trong ngữ cảnh (c), “vỏ quýt dày” biểu trưng cho sự dung dưỡng của giới chức trách nên đã gây ra những hiện tượng tiêu cực, trái tai gai mắt ngay trong nhà tù; còn “móng tay nhọn” biểu trưng cho phương cách đối phó, sắp xếp lại trật tự, kỉ cương của “sếp” mới đối với tình hình trên:

c) Nhưng, vỏ quýt dày có móng tay nhọn. Mới nhậm chức, "Một mẩu" dò hỏi ngay lính gác về tâm tính của tội nhân ở đề lao này. Rồi được biết từ trước đến giờ các Chánh sếp khác vẫn nhân nhượng, mặc cho bọn giám thị ta xử sự, đến nỗi để gây nên một số cai trại cầm đầu đề lao, "Một mẩu" bèn sắp đặt chiến lược.

(Nguyên Hồng- Tết của tù đàn bà)

Hay như trong ngữ cảnh (d), “vỏ quýt dày” biểu trưng cho tên đồn trưởng cùng với những âm mưu lợi dụng trẻ em; còn “móng tay nhọn” biểu trưng cho sự khôn ngoan, mưu trí của các em:

d) Chúng tôi đang là những công cụ trong âm mưu của tên đồn trưởng. Nhưng “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, những đứa trẻ hiền lành và ngây thơ chính là những cái móng tay cắm vào mặt vỏ quýt.

(Nguyễn Minh Châu (Tuyển tập)- Từ giã tuổi thơ, tr 178)

Cả bốn ngữ cảnh trên có điểm chung là “vỏ quýt dày” biểu trưng cho kẻ xấu với những mưu mô, thủ đoạn xảo quyệt; còn “móng tay nhọn” biểu trưng người tốt, có mưu trí, kiên cường không chịu khuất phục, luôn tìm cách vượt qua mọi trở ngại. Nhưng cũng có trường hợp câu tục ngữ được dùng với sắc thái biểu trưng khác:

e)  Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, nhiều lái xe đặt máy báo động việc bắn tốc độ từ xa (Hễ phía trước có người “rình” bắn tốc độ là máy rung chuông!), rồi đưa tay truyền “tín hiệu” cho đồng nghiệp, và lập tức xe sẽ chạy đúng tốc độ cho phép.

(TTCN số 48, ngày 04-12-05, tr 8)

Trong ngữ cảnh (e), “vỏ quýt dày” biểu trưng cho việc “rình bắn tốc độ” xe, còn “móng tay nhọn” là chỉ cách thức mà lái xe dùng để đối phó với các “biện pháp nghiệp vụ” của công an. Như vậy, “vỏ quýt dày” ở đây không thể hiểu là biểu trưng cho người xấu với đủ mưu mô, thủ đoạn xảo quyệt được. “Móng tay nhọn” trong ngữ cảnh này cũng khó mà biểu trưng cho sự mưu trí, khôn ngoan của người tốt. Nạn mãi lộ, nhũng nhiễu của một bộ phận cảnh sát giao thông đã khiến cho cái nhìn của người dân mà đặc biệt là cánh tài xế có cái nhìn không thiện cảm, do “con sâu làm rầu nồi canh”. Các biện pháp rình, nấp để bắn tốc độ khiến cho công việc giữ gìn nghiêm luật giao thông thiếu sự minh bạch. Chính vì thế đã làm cho những biện pháp đó được người viết dùng là “vỏ quýt dày” với sắc thái thái biểu cảm âm tính. Nhưng cách thức đối phó lại của giới tài xế cũng chẳng thể coi là hành động tích cực, không thể gọi là “đoàn kết” khi dùng những chiêu thức đối phó lại việc bắn tốc độ vì bản thân tài xế lúc không có cảnh sát giao thông đã chạy xe quá tốc độ. Như vậy, cả “vỏ quýt dày” và “móng tay nhọn” ở đây đều là cách đối phó lẫn nhau của người giữ gìn trật tự giao thông với người tham gia giao thông. Và, rõ ràng cả hai đều đáng phê phán. Trong hoàn cảnh này, nếu là xe khách thì người bị hành hạ chính là khách đi xe.

Sự mở rộng nghĩa” của câu tục ngữ trên còn thể hiện qua cách dùng của nhà văn Vũ Trọng Phụng trong truyện ngắn “Từ lí thuyết đến thực hành”:

f) Họ đã phải ngoại tình có lẽ là để khỏi phải nghĩ đến cách quyết liệt hơn: li dị. Cũng như mình, họ cũng chỉ thấy sự an ủi, cái thú sống ở sự lừa đảo mà thôi. Đã thế, sao đàn ông cứ ích kỉ? Khốn nạn, nào có gì, nếu đó chỉ là vỏ quýt dày và móng tay nhọn gặp nhau? (Vũ Trọng Phụng (Truyện ngắn) - Từ lí thuyết đến thực hành- tr 260 )

Trong ngữ cảnh (f), Vũ Trọng Phụng đã cho nhân vật dùng câu tục ngữ nhằm biện minh cho việc ngoại tình của phụ nữ. Người đàn ông ngoại tình thì được, vậy sao người phụ nữ nào không chung thuỷ thì bị lên án? Như thế, biểu trưng ở đây đã “mở rộng hơn” trong ngữ cảnh. Nó không để chỉ việc trừng trị, đối phó nhau mà là nói về sự đồng tình với cảnh “ông ăn chả, bà ăn nem”. Thật ra, biểu trưng mới của câu tục ngữ có được là do ngòi bút châm biếm, trào phúng của tác giả tạo ra. Có nghĩa là sự “đồng tình” ở đây thực chất là sự mỉa mai, châm biếm chứ không ai có thể chấp nhận một triết lí, hành động như thế của người vợ đối với chồng. Điều này càng minh chứng, do sự chi phối bởi hoàn cảnh, đối tượng, mục đích giao tiếp...mà tục ngữ có thể thu nhận cho mình một nét nghĩa biểu trưng riêng trong từng ngữ cảnh nhất định.

Tóm lại, việc hiểu nội dung bài ca dao khác nhau là do sự tiếp nhận của mỗi người một khác. Năng lực giải mã, vốn ngôn ngữ, vốn văn hoá, sự đồng cảm cũng như cách đặt tác phẩm trong một hoàn cảnh ra đời cụ thể nào đó... có thể dẫn đến những cách hiểu khác nhau về một bài ca dao. Nhưng ca dao có thể đa nghĩa mà hiếm khi mở rộng nghĩa, còn tục ngữ thì tiềm tàng khả năng này. Môi trường ứng dụng, cách vận dụng tục ngữ không chỉ khác với ca dao mà mỗi lần được tái hiện trong một ngữ cảnh vận dụng nào đó, nó có thể được cấp thêm một sắc thái ý nghĩa mới.

--------------

Tài liệu tham khảo:

1. Đỗ Hữu Châu: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 12.

2. Nguyễn Phan Cảnh: Ngôn ngữ thơ, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1987, tr. 85.

3. Nguyễn Xuân Kính: Thi pháp ca dao, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2006, tr 350 – 351; 368 – 384.

4.Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 72.

5. Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hoá, Hà Nội, 1995, tr. 550; tr 725; tr 760 – 761.

6. Đỗ Bình Trị: Những đặc điểm thi pháp của tục ngữ (In trong “Góp phần nâng cao chất lượng sưu tầm nghiên cứu văn hoá, văn nghệ dân gian), NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 2000, tr. 352-379.

7. Nguyễn Xuân Đức: Về nghĩa của tục ngữ, Tạp chí Văn hoá dân Gian, số 4 (72), 2000, tr. 55-58.

8. Chu Xuân Diên- Lương Văn Đang- Phương Tri: Tục ngữ Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1975, tr. 137.

*****


[1] Bài đã đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học số 02/ 2009, trang 88 – 102

[2] Nguyễn Phan Cảnh: Ngôn ngữ thơ, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1987, tr. 85.

[3] Nguyễn Xuân Kính: Thi pháp ca dao, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2006, tr 350 – 351

[4] Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 72.

[5] Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hoá, Hà Nội, 1995, tr. 550

[6] Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hoá, Hà Nội, 1995, tr 725

[7] Nguyễn Phan Cảnh: Ngôn ngữ thơ, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1987, tr. 85.

[8] Nguyễn Xuân Kính: Thi pháp ca dao, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2006, tr 368 – 384.

[9] Đỗ Bình Trị: Những đặc điểm thi pháp của tục ngữ (In trong “Góp phần nâng cao chất lượng sưu tầm nghiên cứu văn hoá, văn nghệ dân gian), NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 2000, tr. 379.

[10] Nguyễn Xuân Đức: Về nghĩa của tục ngữ, Tạp chí Văn hoá dân Gian, số 4 (72), 2000, tr. 55-58.

[11] Chu Xuân Diên- Lương Văn Đang- Phương Tri: Tục ngữ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975, tr. 137.

[12] Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hoá, Hà Nội, 1995,  tr 760 – 761.

 

Lịch làm việc - Thông báo


- LỊCH LÀM VIỆC Tuần lễ từ 20/01/2014 đến 26/01/2014
Đọc thêm...

- THÔNG BÁO SÁCH MỚI
Đọc thêm...

- Thông báo sách mới Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam vừa in quyển "Những vấn đề Văn học, Ngôn ngữ và giảng dạy Ngữ văn".
Đọc thêm...

Tin Bộ môn - Khoa - Trường


- DANH SÁCH CỐ VẤN HỌC TẬP – Năm học 2012-2013
Đọc thêm...

- Ngày 10 tháng 7 năm 2012 Chi bộ SP. Ngữ Văn đã tổ chức Đại hội Chi bộ nhiệm kỳ 2012 - 2015 thành công tốt đẹp...
Đọc thêm...

- Hiệu trường Trường Đại học Cần Thơ đã kí quyết định...
Đọc thêm...

- Ngày 09/4/2012, Bộ trưởng Bộ giáo dục & Đào tạo đã kí QĐ số 1348, bổ nhiệm chức danh PGS năm 2012 cho 103 nhà giáo. Bộ môn SP Ngữ văn có 02 Thầy Cô nằm trong danh sách bổ nhiệm trên là: - Bà Nguyễn Thị Hồng Nam PGS ngành Giáo dục học. - Ông N
Đọc thêm...

- Ngày 03/5/2012 Cô Nguyễn Thụy Thùy Dương đã bảo vệ thành công Luận văn Thạc sĩ
Đọc thêm...

- 8h30, ngày 05/5/2012 tại Hội trường lớn khu 2 Khoa sư phạm đã làm lễ tổng kết TTSP cho sinh viên K34. Trong đợt TT trên sinh viên SP.Ngữ Văn K34 đã hoàn thành tốt công tác giảng dạy và chủ nhiệm với kết quả cụ thể như sau:
Đọc thêm...

- Ngày 09 tháng 4 năm 2012, Hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ đã kí Quyết định số 840/QĐ- ĐHCT, điều động ông Chim Văn Bé
Đọc thêm...

- Kế hoạch Lễ phát bằng Tiến sĩ và Thạc sĩ năm 2012
Đọc thêm...

- Bảng thống kê thành tựu NCKH trong 10 năm (2002 - 2012) của Bộ môn Sư phạm Ngữ văn để báo cáo lên Khoa nhằm tham gia Hội chợ & triển lãm thành tựu 10 năm xây dựng và phát triển ở Đồng bằng Sông Cửu Long
Đọc thêm...

- Bộ môn SP. Ngữ Văn đạt giải nhất cuộc thi xếp đồ nguội do Khoa SP tổ chức ngày 07.3.2012, chào mừng ngày Quốc tế phụ nữ 08.3 (Xem ảnh)
Đọc thêm...

Thông tin VH - VN, Ngôn ngữ & GD


Ba thập niên đầu thế kỷ XX và sự hình thành trường văn học ở Việt Nam
Đọc thêm...

Tu từ học tiểu thuyết – một phương pháp tiếp cận giàu tiềm năng
Đọc thêm...

Nhà giáo nhân dân, giáo sư, nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh
Đọc thêm...

Thành ngữ trong truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long
Đọc thêm...

"Thói dối trá..." ở đề văn gây tranh cãi
Đọc thêm...

Giọng điệu trong văn xuôi Vũ Bằng
Đọc thêm...

Khúc ca hoài cảm của kẻ tình nhân
Đọc thêm...

Điều quan trọng nhất về giáo dục
Đọc thêm...

“Loạn” phiên âm: Hậu quả nghiêm trọng
Đọc thêm...

Chữ Nôm với ngữ âm địa phương Nam Bộ
Đọc thêm...